What sort of word___Loại từ nào___ shall come out____sẽ xuất hiện
Letter from the editors
Author: AJAR
Published on: 10/30/2017 8:25:38 PM

In English, parallel, in Vietnamese, song song, two voices move alongside each other to form the space of translation    ||    Tiếng Anh, parallel, tiếng Việt, song song, hai giọng chuyển di tạo hình một không gian dịch

 

SONG SONG: the music that echoes between two bodies at a certain distance from one another. My song is your song, no, they are not the same but they are similar, my song is like this, your song is like that, our SONG SONG sounds like “thisthat”, and also it sounds like “thatthis”

 

SONG SONG: nhạc vọng âm giữa hai cơ thể xa nhau một cách quãng. Song tôi, bài ca tôi là song người, bài ca người, không, không là một mà tương thanh tương ứng, bài ca tôi đây, bài ca người đó, SONG SONG vang lên “đâyđó”, và hồi vọng “đóđây”


 

:            

    this    =    that    ||    this

that  ||    this     =    that

__________________________

__________________________


đây     =      đó    ||     đây

đó     ||     đây     =     đó

 

__________________________

__________________________

 

could be one way of writing it, another way could be

 

đây một cách viết song song, còn một cách kia có thể


:                


Today I am wearing: my mom’s old skirt and the socks I took from J, the brown boots were also my mom’s and my shirt first belonged to my grandma (dad) who was wry and smoked cigarettes and died with only one leg. Under the shirt is an undershirt, given to me by E when she moved away and left most of her clothes, even the little ones. The sweater I have in my bag in case it gets cold belonged to my grandpa (mom) who always ate shrimp cocktail while wearing it.

When reading my body/a translation, how rigorously do I search for signs of the original?

 

Hôm nay tôi mặc chiếc váy cũ của mẹ và đeo tất của J, đôi bốt nâu cũng từ mẹ, và áo sơ mi tôi mặc vốn là của bà nội, nội hài hước, hút xì gà và lúc mất chỉ còn một chân. Dưới áo sơ mi là áo lót E tặng tôi khi cô ấy rời đi và bỏ lại hầu hết áo quần, kể cả đồ nhóc. Áo len tôi bỏ trong túi nhỡ khi trời lạnh là của ông ngoại, ngoại thường ăn cocktail tôm khi mặc áo này.

 

Khi đọc cơ thể tôi/một bản dịch, tôi riết róng cỡ nào kiếm tìm những dấu hiệu bản gốc?

 

My body translates like the second voice in a song

                        Cơ thể tôi dịch như giọng đệm của bài ca

 

Clothing worn one body at a time can be worn several hundred times by several hundred bodies. If he has forgotten that I took his socks, the first voice of their song, can I ever wear them faithfully, and if I put them on different feet, the second song, and nothing always fits just perfectly, is it the same or only similar?

 

Quần áo phủ che một cơ thể một lần có thể phủ che trăm lần trăm ngàn cơ thể. Nếu chàng quên tôi đã lấy tất của chàng, giọng thứ nhất của bài ca, liệu tôi có thể nào đeo chúng thành thật sắt son, nếu tôi xỏ vào những cái chân khác nhau, bài ca thứ hai, và không gì luôn luôn hoàn hảo vừa vặn, liệu có phải vẫn vậy chăng, hay chỉ tương tự mà thôi?
 

could be one way of writing it, another way could be

 

đây một cách viết song song, còn một cách kia có thể

 

A mother once asked me to teach her daughter “insight”. Having no other idea about this, I took the girl into the bathroom and said we are going to look at/into our faces in the mirror silently for ten minutes now. After a few minutes I realized who I was looking at was not me but I couldn’t know who it was and then I couldn’t even know who it wasn’t. Not being able to bear my face for the whole time, I started to look at hers. This is || Is this why I translate? Her face is the language that gives me a home away from my own unknowable one. Her face is much younger than mine, there are no old lines under her eyes, she has a nose without question. We, standing there in the bathroom, staring into the sight of ourselves, wandering between eyes and nose and mouth, i, no, mouth, i, no, mouth, i, no, mouth, no no no i i i

 

Một bà mẹ từng đề nghị tôi dạy con gái chị “nhìn sâu". Chẳng nghĩ ra ý tưởng gì khác, tôi đưa cô bé vào phòng tắm và nói nào mình sẽ im lặng nhìn sâu/vào mặt mình trong gương mười phút nhé. Sau vài phút, tôi nhận ra kẻ tôi đang nhìn vào không phải là tôi nhưng tôi không thể biết là ai và rồi tôi không thể biết ai kẻ đó không là. Không thể chịu được gương mặt mình suốt cả thời gian đó, tôi bắt đầu nhìn vào mặt cô bé. Đây là || là đây lí do tôi dịch? Gương mặt cô là ngôn ngữ cho tôi một nơi chốn náu nương xa khỏi chính chốn nương náu bất khả tri của tôi. Gương mặt cô bé non hơn tôi nhiều, không có những đường nhăn quen nét già nua dưới mắt, một cái mũi không cong dấu hỏi băn khoăn. Chúng tôi, đứng đó trong phòng tắm, nhìn sâu vào cảnh tượng của chính mình, lang thang giữa mắt và mũi và miệng, tôi, không, miệng, tôi, không, miệng, tôi, không, miệng, không không không tôi tôi tôi

 

could be one way of writing it, another way could be

đây một cách viết song song, còn một cách kia có thể

 

Tôi 1: Tôi sóng đôi người, tôi trôi cùng người.
Me number 1: I parallel you [I live paired(allel) to you, waving], I float with you.

 

Tôi 1+: Tôi bờ này lẫn bờ kia của con sông, phập phồng mong người một cây cầu.
Me number 1+: I edge the river on this shore the same as that shore, heaving and waiting for your bridge.

 

Tôi 1++: Tôi đây lẫn kia, người gọi tên tôi là rối loạn.
Me number 1++: I am here the same as there, you call my name a confusion.

 

Tôi 1+++:  Tôi một ai khác như người, tôi nhân tôi thành người, tôi nhân người thành vô tận.
Me number 1+++: I am another like you, I multiply myself to become you, I multiply you to become endless.

 

Tôi người một bọn mộng tin huyền thoại nguỵ tạo về những vụ trụ gương: tôi là tôi phi tôi, người là người phi người, tôi là tôi người cùng sống chết trong những toạ độ không-thời lệch nhau một nắm tay, tôi này ngóng tôi người kia chào đời, tôi này nán đợi tôi người kia một vẫy tay từ biệt. Ngày, tôi cần mẫn tán mình thành những mảnh vỡ. Đêm, tôi đào luyện phép màu hợp thể: tôi thành người thành thế giới thành vũ trụ. Tôi bội trương sự sống người. Tôi khuếch tán nỗi tò mò của ánh sáng. Tôi bảo toàn tôi trong phân rã. Tôi níu tay người trìu mến tôi và hẹn tôi một phía không bao giờ. Tôi nhìn tôi trong mắt người và không thấy tôi thêm nữa. Tôi người vẫn song song tìm những bóng chân trời, những kẻ khung cửa sổ, những đường ray, những bờ vắng, những bài ca lạc giọng.
 

Me and you keep a dreamy belief in the false myth of mirror universes: I am me un-me’d, you are you un-you’d, I am me-as-you together living and dying in the coordinates of space-time deflecting off each other hand in hand, me here expecting me-as-you to be born, me here lingering around for me-as-you there to wave goodbye. By day, I diligently woo myself into fragments. By night, I practice the miracle of fusion: I become you become the world become the universe. I proliferate your life. I diffuse the curiosity of light. I conserve myself in decay. I hook your hand tenderly in mine and you promise me to be on the never-to-be side. I look at myself in your eyes and don’t see me anymore. Me-as-you keep parallel in search of the horizon’s shadow, the window framers, the train tracks, the deserted shores, the songs who have lost their voices.

 

Song song khả thể.

Parallel possibilities.

 

Song song vực hiểm.  

Parallel hazard edges.

 

Những phân mảnh bồn chồn đồng hành những sống sót. Những rạo rực chớp nhoáng nhiều cuộc đời làm dịu nỗi sợ không thoả một đời mình. Lặp lại này mỗi lần một khác trong những gương soi. Những hiện diện tôi không biết những tôi hiện diện đâu kia. Tôi hợp thể người, và tôi sẽ phân rã khi người rời bỏ. Ôm tôi, bằng nước của người.

 

The dreadfully hopeful fragments pair together with the survivals. Flashes of excitement about having many lives ease the frightening dissatisfaction with my one existence. This repetition is each time differently reflected in mirrors. My presences do not know the me’s who are present elsewhere. I fuse to you, and I will decay when you walk out. Hug me in your water.

 

Người 1: Người sóng đôi tôi, người trôi cùng tôi.

 

You number 1: You parallel me, you float with me.

 

Người 1+: Người bờ này lẫn bờ kia của con sông, tôi phập phồng đòi làm một cây cầu.

 

You number 1+: You edge the river on this shore the same as that shore, I’m heaving and summoning a bridge.

 

Người 1++: Người đây lẫn kia, tôi gọi tên người là mong nhớ.

 

You number 1+++: You are here the same as there, I call your name the wanting memory.

 

Người 1+++:  Người một ai khác như tôi, người giảm trừ người thành tôi, người giảm trừ tôi thành vô tận.

You number 1+++: You are another like me, you reduce yourself to become me, you reduce me to become endless.



 

(2)

 

In presenting this song song || para||el translation issue, we know it can always be another way, the is no end to the variations, to the possibilities, to the choices for how to bear/be borne across languages. With the reflection constantly in flux no, it is the river that moves and the reflection that stays in one place, we watch ourselves move through another realm while standing still in this one. Perhaps if the water weren’t so murky we could see through to the river bottom and it would tell us the final, perfect word to use up here, on this side. This is the impossibility that we seek, that we speak (of) in this issue.

 

Khi trình bày số chủ đề dịch song song || para||el này, chúng tôi biết sẽ luôn có một lối đi khác, sẽ không có điểm cuối kết cho những biến thể, những khả thể, những lựa chọn cách thế ôm mang/được sinh ra băng ngang các ngôn ngữ. Như phản chiếu không ngừng chuyển sắc không, chính là dòng sông chuyển động và hình ảnh phản chiếu đó vẫn nguyên một chốn, ta nhìn chính mình chuyển động qua vùng nọ khi vẫn đứng lại nơi này. Có thể nếu nước không quá đục, ta sẽ nhìn thấu đáy sông và sông sẽ nói ta nghe từ hoàn hảo cuối cùng được dùng nơi đây, phía bờ này. Đây là sự bất khả mà chúng tôi tìm kiếm, điều chúng tôi nói (về) trong số này.

 

Here in this collection, we meet the first utterances emerging from unseasoned tongues, we meet the ongoing dialogues of other editors and translators, we meet the measured tones of criticism, we meet the voices (self)transformed and shifting (in)between, and the neighboring voices whose names we have never known. In each, we meet an approach toward the (im)possible.

 

Ở đây, ta gặp những tiếng bật lên lần đầu từ những lưỡi mở bỡ ngỡ, ta gặp những đối thoại chưa xong của các dịch giả và biên tập viên, ta gặp những giọng phê bình nặng kí, ta gặp những giọng nói (tự) chuyển hoá và chuyển dịch ở (trong) giữa, những giọng xóm giềng ta bối rối nghe tên. Mỗi giọng, mỗi tiếng, ta gặp một cách tiếp cận hướng tới điều (bất) khả thể.


 

- Hà Nội, Thu | Fall  2017

AJAR

- photo by Yến Dương

 
AJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJARAJAR